Tin mới
Thư viện Ảnh
select


Thống kê truy cập
  • Đang online: 10
  • Hôm nay: 179
  • Trong tuần: 1,382
  • Tất cả: 134,105
CHUYỆN TÌNH Ở LÀNG KHÁNH

Nguyễn Đức Hòe 

 Truyện ngắn  

Thị trấn nhỏ bên sông Đào mấy năm nay sầm uất lạ. Nhà cao tầng san sát. Các cửa hàng, cửa hiệu  mọc lên như nấm. Bên đường rẽ ra sông Đào có một ngôi nhà nằm khiêm nhường ít người chú ý đến. Đó là nhà của chị Nhãn. Hôm nay gian bếp của họ như chật hơn. Người mẹ tất bật lên nhà, xuống bếp. Cô con gái chăm chú cuộn nem mà chẳng biết tại sao cái nem không chịu tròn theo ý muốn đành gọi mẹ đến giúp. Người mẹ tay làm, miệng giải thích:

-Tại con ít làm món ăn thôi. Ngày còn học phổ thông mẹ lo cho con từng li từng tí. Lên Hà Nội học thì ăn cơm bụi. Nữ công gia chánh quên là đúng thôi. Công việc bếp núc muốn thuần thục phải làm thường xuyên con à.

- Mẹ hướng dẫn để con ôn lại kẻo mai kia đi lấy chồng người ta lại chê trách.

- Từ nay mẹ nhường con nấu ăn. Con mà không kham nổi là mẹ cốc  cho lỗ đầu đấy- À mà lần sau con muốn mời ai đến ăn cơm phải báo trước nhé. Đột xuất thế này mẹ cứ cuống hết cả chân tay.

- Vậy con điện để bác ấy không đến nữa nhé.

- Ai lại làm thế? Người ta cười cho.

- Thấy chưa, con vừa giả vờ mà mẹ đã…Mà hình như bác Hai Đền đang đến  kia kìa.

***

  Lâu lắm rồi, hôm nay Hai Đền mới có bữa cơm gia đình ấn tượng. Món  chả nem vàng ươm. Nhìn đã ngon mắt. Chủ nhiệt tình. Khách không nỡ chối từ. Cả chủ lẫn khách đều say. Anh đành nghỉ trưa tại nhà Nhãn. Khi bớt hơi men, anh ra phòng khách. Nhãn từ phòng con gái bước ra. Hai Đền thấy hơi lúng túng. Tai nóng bừng hơn cả lúc uống rượu. Anh chưa biết xử lý thế nào, Nhãn đã lên tiếng trước:

- Chắc lạ cảnh, lạ nhà  anh không ngủ được?

- Mong chị bỏ qua cho, vì dùng cả bia lẫn rượu nên hơi bị say.

- Anh Hai Đền ạ. Từ hôm chuyển về ngôi nhà này, lần đầu tiên có người đàn ông đến ăn cơm trưa và nghỉ lại đấy.

-Thế trước chị ở đâu.

-Trước tôi ở trong xóm. Ngôi nhà cấp bốn cũ kỹ quá nhưng chưa có điều kiện thay. Từ ngày cháu Vải ra công tác, được chính quyền địa phương giúp đỡ tôi chuyển ra đây cho thoáng mát.

- Chỉ để cho thoáng mát thôi ư?

- Vâng! Và cũng để hôm nào cháu trực ca đêm, về cho tiện.

- Hôm đến nhận bệnh viện nhận thương binh về trung tâm, được làm quen với cháu, tôi thực sự ngạc nhiên bởi chị đặt tên cho cháu là Vải mà là quả vải chứ không phải vải sợi. Chị có thể cho tôi biết tại sao không?

Nhãn cúi xuống, đôi mắt chớp chớp. “Bác Hai Đền tội lắm mẹ ạ. Chiến tranh đã cướp đi người vợ hiền và hai con nhỏ của bác.” Câu nói của con gái văng vẳng bên tai khiến chị nhìn sâu vào đôi mắt Hai Đền. Ở đó ánh lên sự cương nghị song cũng chứa chan tấm lòng rộng mở, dung dị của người lính. Chị gạt đi mọi sự ưu tư, kể về làng Khánh Mỹ của mình.

Làng nằm trên triền đê sông Đào, nơi có nhiều vải, nhãn nhất huyện. Cứ vào tháng Giêng, tháng Hai khi tiết trời vừa ấm lên thì hoa vải, hoa nhãn cũng vàng rực như những mâm xôi đỗ phủ kín khắp làng. Hoa vải giống con gái làng, duyên lẩn vào trong. Không rực rỡ sắc màu. Không ngào ngạt hương thơm. Vừa đủ mật ngọt rối rít cánh ong. Vừa đủ phấn vàng dập dìu cánh bướm. Người làng Khánh Mỹ trải niềm vui nỗi buồn với hàng vải, hàng nhãn. Là bà mối cho bao đôi trai gái nên vợ nên chồng. Trong đó có tình yêu của chị và người con trai sinh ra đúng vào mùa vải chín, mẹ anh đặt  tên là Chín. Lên cấp 3, họ cùng chung một lớp. Mùa hoa nhãn, ngày nào tan trường họ cũng đi qua, vít những cành la đà đầy hoa xuống hít hà đến khi lồng ngực căng phồng mới từ từ thả chúng về thế tự nhiên. Một buổi chiều như bao buổi chiều khác, khi rặng nhãn đầy lên bởi những chùm hoa, bỗng có tiếng gầm rú ghê rợn của máy bay Mỹ. Khi những tiếng nổ đinh tai nhức óc im bặt, hai mẹ con rời khỏi hầm trú ẩn thì rốc két đã xuyên qua hai đầu mảnh vườn. Những cành lá bị thương lay lắt dưới trời chiều lửa máu. Mùi thuốc súng khét lẹt, sền sệt tưởng múc được bằng tay. Mẹ anh ngẩng lên giời. Một tay đặt ngang mạng sườn. Tay kia chỉ về hướng máy bay vừa tới oanh tạc: “Tổ cha thằng giặc Mỹ. Nước mày sống với nhau ác nhất trần gian chưa đủ hay sao? Bây giờ chúng mày lại mang cái ác trút xuống dân lành chúng tao hử? Chúng mày nhớ: Gieo gió thì ắt gặp bão đấy!”.Mắt anh nhức nhối. Những giọt nước nóng hổi chảy trên gò má phinh phính lông tơ. Mẹ anh nhìn con rồi nhìn ra hàng nhãn: “Chiến tranh mà! Rồi sẽ qua đi thôi, con ạ!” Bà an ủi con nhưng thực ra trong lòng bà như có những mảnh đạn đâm vào. Bà mím môi lại. Cúi xuống cùng con lặng lẽ dọn dẹp những cành nhãn trúng đạn xơ xác gục đổ. Bắt đầu từ đấy, bạn bè trong lớp 10A của anh bắt đầu nói về chiến tranh. Việc thi đại học và cả chuyện đi lính nữa. Một hôm, anh đột ngột nói với mẹ: “Con trúng nghĩa vụ, chuẩn bị lên đường, mẹ ạ.” Người mẹ sững sờ, ngồi phịch xuống giường. Anh ôm mẹ vào lòng: “Mẹ ơi! Hàng vạn, hàng triệu người đi bộ đội chứ có riêng gì con đâu. Vả lại, mẹ thấy đấy. Cái hàng nhãn làng mình…Con không thể ngồi yên nhìn rặng nhãn làng ta bị bom thù gặm đi một nửa.” “Con đi bây giờ là phải. Làng mình có còn thanh niên đâu?” Bà ngước nhìn lên di ảnh chồng. Chồng bà hy sinh khi con trai mới chập chững biết đi. Anh là nguồn hy vọng, đồng thời cũng là giọt máu để duy trì nòi giống của dòng họ Lê Duy. Bà thắp nén nhang thơm lầm rầm khấn khứa để chồng biết mà chắn che cho anh chân cứng đá mềm.

 

***

Đêm chia tay. Hai người đi bên nhau dưới rặng nhãn ven đê sông Đào, nói cười ríu rít. Đôi lúc họ dừng lại nhìn vào mắt nhau mà tin yêu. Để mà dùng dằng. Để mà ngập ngừng. Để mà bồi hồi nói với nhau điều khó nói nhất: “Nhãn ơi! Mình biết…” Từng ngồi với nhau bên bao bài toán khó, bên bao bài thơ hay. Từng chia sẻ với nhau củ dong, củ mài luộc nóng hổi mà sao giờ đây anh lúng túng thế? Xao xuyến thế?...Nhãn ơi! Anh vẫn giữ tay Nhãn trong hơi thở nồng nàn gấp gáp: “Nhãn ơi! Anh rất yêu em!” “Em biết. Nhưng em còn đang học mà anh.” Giọng Nhãn ấm áp như dòng sông mùa xuân. Hai từ cuối, cô ngân dài thêm một chút khiến Chín mê man hút hồn vào dáng hình người con gái đang độ lớn phơi phới như cánh đồng lúa xanh trước làng. Mái tóc dài vừa gội lá sả vắt qua ngực, thả xuống trước mặt Chín như một dòng suối. Chiếc áo đông xuân cộc tay vừa được ưu tiên mua, lần đầu tiên mặc như khoe một cách mờ ảo đường nét nuột nà trinh trắng làm anh bất giác tiến sát gần cô. Hai cái bóng như nhập làm một. Anh đưa tay nâng cằm Nhãn lên.

-Anh! Chúng mình nói với nhau những câu ấy là thực lòng với nhau rồi. Mong cho nơi trận mạc anh cứng cáp hơn. Tình yêu của chúng ta sẽ ra hoa kết trái.

Buổi chia tay ấn tượng ấy cứ khúc xạ vào cuộc đời họ. Nhãn thi vào Đại học Sư phạm 1 Hà Nội. Cô ra trường, đám cưới của họ được tổ chức ngay dưới rặng nhãn ven sông Đào, bên những vòng lá ngụy trang bay phần phật. Trong chiến tranh, năm ngày trăng mật đối với họ là quá đủ. Xe của đơn vị về đón anh. Mệnh lệnh thời chiến. Sau đó 9 tháng bé Vải ra đời. Mỗi khi mặt đất bình yên, chị lại bế con ngóng về phía trời Nam. Một hôm, chị đi dạy học về. Hai mẹ con đang ngồi bên bà nội, tự nhiên chị cảm thấy bồn chồn.  Người ta mang đến cho chị một chiếc ba lô con cóc và chiếc võng dù. Chị hiểu tất cả.

Hai Đền ngồi lặng, đối thoại với chính mình. Những kỷ niệm đau xót của chiến tranh ập về…Bãi mía, nương khoai, con đường 39 chạy qua làng anh. Tất cả đều bị bom thù cày xới. Một quả bom trúng hầm trú ẩn của nhà anh. Theo như bố anh kể, thời gian ấy, bao đứa trẻ làng anh chào đời mới được vài tháng đã bị đủ thứ bệnh cướp đi sinh mạng nên người ta thường đặt cái tên xấu xí như: Rô, Thuội, Hĩm… Tên anh được đặt là Đẹn để cấm cái sài cái đẹn lai vãng đến nhà. Đi học cấp một, người ta gọi anh là Đen. Bởi mắt anh đen như hạt nhãn. Đi bộ đội không biết người ta vô tình hay hữu ý, thêm cái dầu huyền thành Đèn. Đơn vị anh vào Nam rồi sáp nhập với bộ đội địa phương. Chẳng biết họ phát âm thế nào viết thành Đền. Đồng chí đại đội trưởng biết tin vợ con anh bị bom Mỹ sát hại nên gọi là Hai Đền. Đại đội trưởng giải thích “Anh sẽ được đền đắp.”Anh mang tên Hai Đền, một cái tên rất miền Nam nhưng đầy ý nghĩa.

***

 Hai Đền vừa hút thuốc lá vừa phóng tầm mắt nhìn về phía bờ sông Đào. Khách lên xuống đò lọt thỏm vào những bãi ngô đang phun râu đóng bắp, bên những hàng vải, hàng nhãn nối đuôi nhau chạy dài hàng cây số. Hai Đền cảm hứng đọc: “/Ai nhân ra giống vải thiều/ Vòm xanh lấp ló bao nhiêu má hồng./ Ai làm ra lung liếng sông/ Để đưa tu hú sổ lồng sang ngang./ Ai sinh ra thói tình tang/ Để ai hóa gió lang thang trong nhà./ Một mùa vải chín đã qua/ Nghe tu hú, động lòng ta bốn mùa.”

- Anh Hai đọc thơ hay quá.

- Đây là bài thơ của Nguyễn Duy, anh bạn cùng đơn vị chép tay cho. Hôm nay thấy cảnh và người hợp nhau nên đọc cho vui thôi. Mà Nhãn cầm cái gì trong tay có vẻ bí mật thế?

- Đây là bộ quần áo ngủ em may nhưng nhà em chưa kịp mặc. Mấy chục năm không có chủ, tình cờ gặp anh, em muốn kỷ niệm để anh dùng tạm.

- Bộ quần áo ngủ cuả Chín, tôi dùng có tiện không?

- Các anh cùng là bộ đội, coi nhau như anh em một nhà, có gì mà ngại.

- Thế còn cái gì kia nữa?

- Đây là kỷ vật ngày cưới.

- Chiếc gối đẹp quá! Mà sao không thêu đôi chim bồ câu tương trưng cho hạnh phúc lứa đôi, lại thêu chùm vải chín?

- Đó chính là tình yêu của chúng em. Và nó giải thích cho anh hiểu: Tại sao em lại đặt tên con gái mình là Vải. Đôi gối này em giữ một chiếc, nhà em mang theo một chiếc. Coi như là báu vật để hẹn ngày gặp lại. Em tặng anh để kỷ niệm ngày gặp đầu tiên do cháu Vải giới thiệu.

- Cám ơn Nhãn đã tin tôi và trao kỷ vật này.

Hai mẹ con tiễn Hai Đền ra tận rặng nhãn bờ đê. Bóng anh khuất dần sau khúc đê rồi mà dáng người khỏe mạnh, đôi vai mở rộng, bước đi chắc nịch giống như bao người lính khác cứ lởn vởn trong đầu Nhãn.

Nhiều ngày sau, Hai Đền sinh ra bệnh mất ngủ. Hút thuốc lá nhiều. Chiến- bạn cùng phòng dò hỏi, rồi gật gù:

-Vậy là cậu hạnh phúc rồi. Có quần áo ngủ tuy mẫu mã cũ một chút nhưng ấm bàn tay gái một con. Lại cả chiếc gối nữa. Chùm vải chín có nghĩa là tình cảm cũng đến độ chín mồi. Thôi báo cáo với chi bộ rồi cưới phéng đi cho bọn này uống rượu. Trung tâm có chỗ quen mỗi khi đi nhận thương binh.

- Cậu chỉ được cái…Mình đã nói từ lâu là cái chuyện ấy không bao giờ nghĩ tới nữa.

- Bây giờ khác rồi. Nỗi đau đã chìm vào quá khứ. Gặp duyên kỳ ngộ, cần thay đổi tư duy chứ.

Hai Đền không mặn mà với sự gợi ý của bạn. Cầm chiếc gối trong tay, anh vẫn có linh cảm là Chín chưa hi sinh. Rất có thể anh chỉ mất tích trong trường hợp đặc biệt nào đấy. Hiện tượng này trong chiến tranh thiếu gì? Hai Đền cố nghĩ ra cách để quảng cáo chiếc gối này lên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ nhân của chiếc gối thứ hai, nhưng vẫn bặt vô âm tín. Chợt trong đầu anh lóe lên một ý nghĩ mới.

 Giữa lúc ấy, tiếng kẻng báo giờ nghỉ trưa đã hết. Hai Đền rảo bước qua các phòng. Thương binh khẩn trương gấp chăn màn phẳng phiu, vuông góc, xếp ngay ngắn lên đầu giường. Thương binh nhẹ tự đi.Thương binh nặng ngồi trên xe lăn. Anh dừng lại bên giường một thương binh dáng người thanh mảnh, trông rất trí thức. Nếu ai nhìn kỹ sẽ phát hiện ra lòng tử đôi mắt như thu nhỏ lại. Có lẽ vì thế mà chỉ nhớ và phát âm được chữ B. Một chiếc gối thêu chùm quả vải đã hoen ố đặt ngay ngắn trên đầu giường. Mắt anh hoa lên. Anh nhìn sâu vào mắt người thương binh. Đôi mắt này sao giống mắt Vải? Anh lặng lẽ về phòng, lật giở lại từng trang hồ sơ. Nguyễn Văn Chín. Quê quán: Làng Khánh- huyện An Hải. Run run bấm điện thoại, giọng anh vỡ òa trong máy. Đón ngay cổng trại an dưỡng, Hai Đền vội vã đưa mẹ con Vải  tới phòng số 3. Bước vào cửa, Nhãn sững sờ, hai chân khụy xuống: Anh…Anh Chín…Đúng là anh rồi. Em đây, Nhãn đây…” Người thương binh tròn mắt, ngơ ngác: “Nhãn…Nhãn…Vợ tôi?” “Vâng. Em đây. Anh nhận ra em rồi sao?” “Nhãn…Nhãn.” Người thương binh ngửa mặt lên, ngúc ngoắc cái đầu. Dòng nước mắt chảy tràn trên khuôn mặt Nhãn. Vải rút chiếc gối trong túi, đặt xuống bên cạnh chiếc gối vẫn đặt ngay ngắn trên giường: “Bố ơi. Bố có nhận ra cái gì đây không?” Người thương binh nhào ra giường, vồ lấy chiếc vỏ gối, ấp vào ngực mình, tay kia giương lên trời cao hô: “Bê…bê…bê 2 đâu? Bê 2 đâu?...Xung phong…Xung phong…” Vải chìa ra trước mặt mấy chiếc ảnh cũ đã phóng to: “Còn đây, bố xem đi! Ảnh cưới của bố mẹ dưới rặng nhãn…” Người thương binh giật phắt lấy những chiếc ảnh. Mắt anh như dán vào từng chiếc. Bỗng một chuỗi cười lanh lảnh vang lên. Anh ngã sõng soài trên nền nhà. Vải vội vã tiêm hồi sức cấp cứu rồi đưa bố lên giường. Tay anh vẫn không rời chiếc gối và những tấm ảnh. Nhãn ấp tay anh lên ngực mình, nơi trái tim đang thổn thức. Anh mở mắt, sờ lên tấm ảnh như muốn tìm từng chi tiết. Gốc nhãn hôm chia tay này. Đám cưới này. Lá ngụy trang bay phần phật này.

- Anh Chín! Em là vợ anh đây! Kia là con  gái của chúng ta. Cái Vải đấy. Vải nắm chặt tay bố:

-Bố Chín! Con là Vải đây.

Chín bật dậy. Lòng tử đôi mắt bỗng mở to hết cỡ nhìn mọi người:

- Ôi…Vợ tôi…Con tôi… Đồng đội tôi...

Hai Đền rưng rưng nước mắt, ôm Chín vào lòng. Cả trung tâm điều dưỡng 19-5 ùa về vây quanh gia đình Chín trong những giọt nước mắt nghẹn ngào.

                                                      

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH NAM ĐỊNH

          Địa chỉ:  171 Trần Hưng Đạo - Thành phố Nam Định
          Điện thoại: (0228) 3849430 - Email: vannghenamdinh18@gmail.com
          Website: http://hoivhnt.namdinh.gov.vn
  Giấy phép của Sở Thông tin và Truyền thông Nam Định số 04/GP-STTTT ngày 19/12/2018
          Chịu trách nhiệm xuất bản: Thạc sỹ Nguyễn Công Thành - Chủ tịch Hội